Sau thắng lợi của Chiến dịch biên thuỳ ( 1950 ) , nhu cầu xúc tiến cuộc kháng chiến và với mối liên tưởng với các Đảng cộng sản của các nước xã hội chủ nghĩa đòi hỏi đảng của những người cộng sản phải ra sức khai , sau khi đã “tuyên bố tự giải tán” từ tháng 11/1945.Đại hội Đảng lần thứ II được tụ hợp và dẫn đến quyết định trở lại công khai lãnh đạo tất cả cuộc kháng chiến và ựng nước , nhưng với tên mới là “Đảng lao dong Việt Nam”( 3/3/1951 ). Quyết định chọn tên này là do yêu cầu của Bác và cũng phải trải qua những tranh luận quyết liệt. Bài báo này rõ ràng bản chất và những sắc thái mới của tổ chức cách mệnh này trong bối cảnh lịch sử mới , nhằm đáp câu hỏi: “Thế nào mới tương xứng là người đảng viên Đảng lao động Việt Nam?”. Bài báo rõ ràng “Đảng lao động Việt Nam sẽ gồm những công nhân , dân cày và lao động trí tuệ yêu nước nhất , hăng hái nhất , cách mệnh nhất” và là “những người kiên quyết phụng sự lao động , những người chí công vô tư lự , làm gương mẫu trong cuộc kháng chiến ựng nước. Như thế là rõ.Ai mà không như thế , thì mất uy tín là người đảng viên Đảng lao dong Việt Nam. Nói chung , người đảng viên ở bất kỳ đâu , bất kỳ làm việc gì , bất kỳ địa vị và hoàn cảnh nào , cũng phải luôn luôn: Đặt lợi ích của sơn hà , của quần chúng. # lên trên hết , trước hết; phải ra sức tham gia nghề nghiệp kháng chiến; phải gần gụi quần chúng. # , thương yêu trợ giúp quần chúng. # , tổ chức là lãnh đạo dân chúng; phải giữ vững tín ngưỡng cách mệnh là chí công vô tư... Nói tóm lại , người đảng viên là một người thay mặt cho Đảng trước dân chúng , để giảng giải chính sách của Đảng và của Chính phủ cho dân chúng hiểu rõ và vui lòng sửa trị một nước. Mà muốn cho dân chúng hăng hái sửa trị một nước , thì người đảng viên ắt phải xung phong làm gương mẫu để dân chúng bắt chước , làm theo.Mà muốn cho dân chúng tuân phục mình , bắt chước theo việc làm sai trái của người khác mình , thì người đảng viên , từ việc làm , lời nói cho đến cách cư xử , phải thế nào cho dân tin , dân phục , dân yêu. Thế là làm cho dân tin Đảng , phục Đảng , yêu Đảng và bắt chước theo việc làm sai trái của người khác chính sách của Đảng và của Chính phủ. Đảng viên nào không được dân tin , dân phục , dân yêu thì chưa tương xứng là một người đảng viên của phái lao động Việt Nam”. Đến nay vừa tròn 60 năm , nhắc lại bài báo như thấy một tấm gương để người nay soi vào!X&N
.
Cộng tác viết nội dung
Dịch vụ Giúp việc theo giờ ở đâu tốt? Công ty vệ sinh nào uy tín? Còn Dịch vụ vệ sinh gì chuyên nghiệp? Hãy ghé thăm chúng tôi để biết chi tiết nhé.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lao động. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lao động. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2014
Thứ Hai, 27 tháng 10, 2014
Giảm nghèo và chính sách đối với lao động di cư
Thị dài lao động Việt Nam đang hình thành và phát triển , do đó xuất hiện các làn sóng lao động di cư là rất bình thường. Nhưng trong lĩnh vực này cũng rất cần những Học hỏi sâu để áp dụng vào thực tại Việt Nam nhằm nâng cao việc gác canh các quyền , các cơ hội việc làm bền vững cho lao động di cư. Có nghĩa là lao dong di cư phải được đối xử công bằng vì những đóng góp rất lớn của họ vào sự phát triển kinh tế của giang sơn cũng như các nước nhập khẩu lao dong . Đây cũng là Sự tình mà một số nội dung của nó đã được đặt ra trong hội thảo “Nâng cao vai trò của tổ chức công đoàn trong việc gác canh người lao động đi làm việc có hạn ở nước ngoài” do ILO phối hợp với Tổng liên đoàn lao động VN vừa tổ chức hai ngày ( 17-18/11/2011 ) tại Hà Nội. Dựa vào những khảo sát tình hình lao động di cư mấy năm gần đây đều cho thấy , lao động di cư trong nước thường tập kết về các đô thị lớn như: Hà Nội , TP Hồ Chí Minh , dà Nẵng... Danh thiếp tỉnh giáp giới với những đô thị lớn vì nơi đây tập kết nhiều khu Công lao , đặc khu kinh tế…Đặc biệt vào dịp giáp tết âm lịch thì lao đông đổ về đô thị lại tăng lên. Những lao động di cư đến đây thông thường nhiều cơ hội kiếm việc làm với lương lậu cao hơn các nơi khác. lao dong di cư trong nước thông thường các đặc điểm dễ thấy đó là tỷ lệ tuổi đời lao động còn trẻ cao , đa số họ đều là những lao dong phổ biến hoặc có Thấp kỹ thuật thấp. Vì thế , họ đang đối mặt với nhiều Sự tình như thiếu am hiểu về pháp luật , về lao động… nên họ có nhiều nguy cơ bị bóc lột sức lao động , dễ bị tuyển mộ trái phép hoặc làm những việc không có sự gác canh của pháp luật , làm việc không có hiệp đồng và bảo hiểm lao dong . Hầu hết lao dong di cư không được bảo đảm các quyền công dân căn bản như quyền được chăm chút sức khỏe , quyền bầu cử và ứng cử , quyền dự các tổ chức chính trị , tầng lớp ở cả nơi đi và nơi đến. Mức sống của họ thường rất thấp và rất khó tiếp cận với các dịch vụ giáo dục , y tế , nhà ở ở... Riêng đối với lao dong nữ di cư còn phải chịu nhiều bất bình đẳng hơn nam giới như mức lương lậu thấp hơn khi làm cùng công việc , thời gian lao dong quá dài ( 10 – 12 giờ/ngày ) , bị “quản thúc” trong các công xưởng , nhà máy , nơi ăn , chốn ngồi không bảo đảm... là nạn nhân của bệnh tật , tệ nạn tầng lớp và các tổ chức buôn bán người. Chính do những khó khăn đó của những lao động di cư thường là mầm mống , nguyên nhân tạo ra những sự bất ổn trong tầng lớp dẫn đến sự vi bất hợp pháp luật , gây mất thứ tự an ninh tầng lớp như: ăn cắp , giết tróc , tình trạng đình công bột phát… Đối với tình trạng người lao dong di cư nước ngoài cũng bất an không kém. Bởi theo Cuối cùng khảo sát thực địa tại Malaysia trong tổng số 534 lao động di cư bao gồm 97 lao dong Việt Nam về chi phí cho một lần đi lao dong nước ngoài làm việc trong lĩnh vực sản suất và xây dựng thì chi phí chính yếu chiếm từ 500USD đến 1000 USD chiếm 52% , còn chi phí từ 1500- 2000 USD chiếm 21 , 6%. Như vậy có thể thấy với mức chi phí như trên cho một lần bay lao động nước ngoài đối với dân nghèo vẫn tương đối cao. Một Sự tình nữa cũng rất đáng quan tâm là tỷ lệ nộp đơn khiếu nại của lao động Việt Nam trong khảo sát trên chiếm tỷ lệ cao nhất so với các nước có lao dong di cư , chiếm tới 38%. Nhiều khi người lao dong Việt Nam bị đối xử tây vị như bị từ chối trả lương thì không biết phải liên lạc với tổ chức nào , bằng cách nào để giúp họ đòi hỏi quuyền lợi xác đáng… Đó là chưa kể đến đa phần trong số họ không được quan tâm đến việc nâng cao sức khỏe. Một cán bộ của Cục Lãnh sự , Bộ Ngoại giao từng cho biết ở A-rập-Xê-ut , lao dong nữ nước ta bị chủ quỵt lương thời gian làm thêm , bị bạc đãi , đánh bại và bị đuổi khỏi nhà. Do hạn chế ngôn ngữ họ không biết gọi cảnh sát can thiệp hoặc khi gọi cho Đại sứ quán kêu cứu nhưng lại không biết rõ Tấm giấy ghi tên tuổi mình đang ở đâu. Tại Italia , lao dong nữ Việt Nam cũng bị chủ đối xử hà khắc , hạ nhục khiến họ nản , bỏ trốn , trở thành lao dong bất hợp pháp… Cục Quản lý lao động ngoài nước ( bộ lao dong - Thương binh và tầng lớp ) , cho biết , hiện có khoảng 500.000 người lao động ( NLĐ ) nước ta đang làm việc tại trên 40 nhà nước và vùng lãnh thổ. Một số thị trường lớn như: Malaixia ( khoảng 90.000 người ) , Đài Loan ( trên 80.000 người ) , Hàn Quốc ( khoảng 45.000 người ). Chỉ tính từ năm 2001 đến nay , bình quân mỗi năm chúng ta đưa được khoảng trên 60.000 NLĐ đi làm việc ở nước ngoài. Riêng 5 năm trở lại đây , chúng ta đưa được gần 80.000 NLĐ đi mỗi năm. Các chuyên gia lao động thuộc tổ chức lao dong quốc tế ( ILO ) qua khảo sát trên 300 mẫu được chọn lọc ở một số tỉnh , thành cũng cho biết tình trạng đa số lao dong không nắm được nghề nơi mình đến làm việc , không cố ý thức vai trò của công đoàn và ích lợi của công đoàn đối với người lao động. Đây là những Sự tình mà chúng ta rất cần phải lưu ý. Có thể nói cảnh tượng lao động di cư được xem là một cách giảm nghèo hữu hiệu. Tuy nhiên , để tạo sự an toàn cho lao dong di cư cũng là cách bảo đảm an toàn thứ tự tầng lớp , xóa đói , giảm nghèo bền vững thì ngoài việc thực hiện tốt chính sách của nhà nước , các Vùng đất cũng rất rất cần tăng cường gia chi dĩ vai trò , trách nhiệm của mình. Đó là có thủ pháp để nắm rõ lực lượng lao động di cư ngay từ cấp tổ dân phố , phường , cùng phối hợp chặt chẽ với các tổ chức Ghi tên (ở cơ quan tại Vùng đất có người di cư đến để tổ chức triển khai các đề án đào tạo nghề của Chính phủ , trong đó Đoái đến đào tạo nghề và hỗ trợ mở nghề ngay tại địa phương; Tuyên truyền cung cấp miễn phí các tài liệu về pháp lý , luật lao động , trợ cấp miễn phí pháp luật , tổ chức các đường dây điện thoại nóng , Tấm giấy ghi tên tuổi giúp đỡ cho lao dong di cư. Đối với lao động di cư nước ngoài cũng vậy , cần tuyên truyền pháp luật lao dong của Việt Nam , các công ước của ILO đi lao động tới người lao động cho họ trước khi đi. Trước mắt cần đề xuất hiệu đính tu bổ chính sách pháp luật hiện hành , đầu tiên là Luật Người lao dong Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hiệp đồng phải có quy định quyền và trách nhiệm của Công đoàn. Đồng thoại đó là tăng cường các hoạt động đối ngoại của Công đoàn , đặc biệt đối với tổ chức lao dong quốc tế ( ILO ) và công đoàn các nước có số lượng lớn lao dong nước ta đang làm việc để gác canh quyền lợi cho lao dong di cư./.
Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2014
Thỏa thuận để hài hòa ích lợi
Từ đó những quy định pháp lý mang tính buộc này trở thành bổ ích hơn với cả người lao động và người sử dụng lao động.Việc tăng thời gian nghỉ thai sản lên 6 tháng là hợp lý đối với lao dong nữ , bởi người mẹ được gia tăng thời gian nghỉ ngơi để hồi phục sức khỏe sau khi sinh cũng như có thời gian nhiều hơn để gần gũi và chăm chút trẻ con ưu tú. Tuy nhiên việc nghỉ thai sản quá lâu , khi quay trở lại làm việc liệu chừng lao dong nữ có được công việc và mức lương như cũ? Nhiều trường hợp sau khi nghỉ thai sản ( theo mức 4 tháng như ngày nay ) quay trở lại làm việc thì công việc đã được bố trí cho người khác , họ phải làm mướn việc mới với mức lương tương đương nhưng sẽ chịu nhiều sức ép hơn , thậm chí là mức lương thấp hơn. Điều này không thể “trách” doanh nghiệp bởi họ cần đảm bảo hoạt động. Nhưng như vậy liệu có đảm bảo quyền lợi chính đáng của lao động nữ nghỉ hưởng chế độ thai sản quay trở lại làm việc? Đó là chưa kể nhiều trường hợp họ đã bị sa thải vô lý và trái pháp luật lao động sau khi nghỉ thai sản.Như vậy nhu yếu phải quy định cụ thể sau khi nghỉ thai sản lao động nữ vẫn phải được sắp xếp , bố trí công việc và mức lương như cũ. Cũng có nhiều ý kiến lo ngại của nhiều lao dong nữ tuy là nghỉ 4 tháng như ngày nay là vừa , nếu nghỉ lâu quá thì cũng sẽ mất lương lậu , cuộc sống khó khăn hơn. Như vậy , nên chăng việc gia tăng 2 tháng nghỉ thai sản đối với lao dong nữ nên quy định là sự thỏa thuận giữa người lao dong và người sử dụng lao động ( nhưng không thấp hơn 4 tháng ) để đảm bảo hài hòa ích lợi giữa đôi bên?NGUYỄN ĐƯỚC ( quận 5 )Tăng thời gian nghỉ thai sản là hợp lýChị Đặng Thị Nụ , nhân viên bán hàng của một công ty tư nhân , vừa mới sinh con và cảm thấy khó có thể đi làm lại sau 4 tháng nghỉ thai sản theo quy định. Để chăm chút con ưu tú , chị làm đơn yêu cầu được nghỉ thai sản thêm 2 tháng , không hưởng lương. Trường hợp như chị Nụ khá phổ biến.Hiện tầng lớp đang tồn tại một nghịch lý là chế độ thai sản chỉ cho phép nghỉ 4 tháng , trong lúc đó mạng lưới nhà trẻ chính quy chỉ nhận giữ trẻ từ 18 tháng tuổi trở lên. Vì không có điều kiện gửi con nhỏ cho người thân và rất hiếm nhà trẻ tư nhân nhận giữ trẻ dưới 6 tháng đến 1 năm nên nhiều lao động nữ chọn phương án nghỉ việc không ăn lương để tự chăm chút con nhỏ. Đây là một thiệt thòi cho chị em nghỉ thai sản và họ dễ lâm vào tình trạng bị mất việc làm. Theo chuyên viên Nguyễn Hồng Liên ( Ban Nữ công LĐLĐ TPHCM ) , khảo sát ở các khu chế xuất , khu Công lao TPHCM , nơi có nhiều nữ công nhân , cho thấy đa phần đều tán thành với (Lập trường tăng thời gian nghỉ thai sản từ 4 tháng lên 6 tháng. Bởi lẽ , rất ít nơi nhận giữ trẻ dưới 6 tháng và đại đa số chị em là lao động nhập cư nên không thể gửi con cho người thân.Về phía chủ sử dụng lao động là người Việt Nam thì đa số cũng tán thành với việc hiệu đính Bộ luật lao dong , tăng thời gian nghỉ thai sản đối với lao động nữ nhi. Tuy nhiên , nhiều chủ sử dụng lao dong là người ngoại bang không tán thành với (Lập trường này và nại lý do khó sắp xếp lại công việc cho số lao động nghỉ thai sản. Bà Nguyễn Hồng Liên khẳng định , dù cho một số ý kiến chưa thuận nhưng việc hiệu đính quy định nghỉ thai sản , gia tăng 2 tháng là nhu yếu và phù hợp với mong muốn của đông đảo lao dong nữ nhi. Ở góc độ gác canh bà mẹ và trẻ con , được nghỉ thai sản dài hơn sẽ hợp lý hơn , tạo điều kiện cho chị nghĩa đệ con bằng sữa mẹ tuyệt đối trong 6 tháng đầu của trẻ. Bên cạnh đó , lao động nữ cũng có thời gian để tái tạo sức lao động , đảm bảo sức khỏe sinh sản. Khi thời gian nghỉ thai sản tăng lên , chị em cũng có điều kiện nghỉ thai sản trước khi sinh 1 - 2 tuần , thay vì chọn sát ngày sinh mới nghỉ việc.Trong kế hoạch hiệu đính một số điều của Bộ luật pháp lao động , dư luận mong chờ quốc dân đại hội xem xét và thông qua yêu cầu này.KHÁNH HÀ
.
.
Thứ Ba, 22 tháng 4, 2014
Trường đã sửa lại giao kèo đúng Luật lao động
Vụ “Bản hợp đồng lao động... Đếch giờ nghỉ” ( tuổi trẻ ngày 5-4 ):Bản hợp đồng sửa lại sẽ có công dụng từ ngày 9-4. Theo đó , điều 2 trong hợp đồng “làm gác canh cả ngày lẫn đêm , kể cả ngày chủ nhật” được sửa thành “ngày làm 8 tiếng theo Luật lao động”. Trường đã có một bản phụ lục kèm theo quy định về ngày nghỉ , ngày trực đối với gác canh này để đáp ứng quyền lợi chính đáng cho người lao động. Trường cũng thống nhất để ông Lâm tính toán số tiền làm ngoài giờ trong hai năm vừa qua để lấy cơ sở nhà trường chi trả lại.TR.TÂN
.
.
Thứ Sáu, 11 tháng 4, 2014
Xử phạt 5 doanh nghiệp vi phạm xuất khẩu lao động
Các doanh nghiệp bị xử phạt gồm công ti cổ phần xuất cảng cần lao và service thương nghiệp Biển Đông - ESTRALA JSC; Tổng công ti khoáng sản và thương nghiệp Hà Tĩnh - MITRACO; công ti làm ra kinh dinh xuất nhập khẩu Chấn Hưng - POLIMEX; công ti xuất nhập khẩu và hiệp tác đầu tư giao thông vận chuyển - TRACIMEXCO; công ti TNHH một thành viên làm ra thương nghiệp và xuất cảng cần lao - VINAHANDCOOP. 5 doanh nghiệp trên đã không báo cáo đột xuất về hoạt động đưa người cần lao đi làm việc ở nước ngoài theo request của cơ quan có thẩm quyền , vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị định số 144/2007/NĐ-CP ngày 10/9/2007 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đưa người cần lao đi làm việc ở nước ngoài. Cục Quản lý cần lao ngoài nước request 5 doanh nghiệp nghiêm túc kiểm điểm , rút kinh nghiệm và thực hành trọn vẹn , kịp thời chế độ báo cáo đột xuất về hoạt động đưa cần lao đi làm việc ở nước ngoài theo quy định để đảm bảo tính công khai , phân tích minh bạch , đảm bảo lợi quyền cho người cần lao. Thu Cúc .
Chủ Nhật, 6 tháng 4, 2014
Nhu cầu tuyển lao động giảm
Theo báo cáo của Tổng LĐLĐ , tình hình việc làm những tháng đầu năm 2011 có nhiều biến động. Trước những tác động của tình hình lạm phát , nhiều doanh nghiệp không có xác xuất mở rộng làm ra nên nhu cầu tuyển lao động giảm so với thời khắc năm 2010 , đặc biệt là nhu cầu tuyển lao động phổ thông. Bây giờ các doanh nghiệp hầu như chỉ tập trung tuyển lao động có trình độ chuyên trị , tay nghề , kỹ thuật cao như ở TPHCM , Bình Dương , Đồng Nai , Hà Nội. Doanh nghiệp kinh dinh có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn , người lao động khó tìm việc làm. Trong ảnh: Công nhân làm ra hàng may mặc tại công ti Việt Long - TPHCM. Ảnh: Tấn ThạnhĐặc biệt , nhiều công nhân , lao dong trong những chức vụ của ngành xây dựng , giao thông không có việc làm do các dự án phải Ngừng lại , dãn tiến độ vì giá nguyên vật liệu và lãi suất cho vay của ngân hàng tăng cao. Theo ông Nguyễn Hòa Bình , Phó chú tâm Tổng LĐLĐ Việt Nam , đã có hàng ngàn công nhân , lao dong một phía xin kết thúc giao kèo lao động do hoàn cảnh lao động có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn , ngày công quá thấp không đủ xài cho cuộc sống bản thân và gia đình , thời kì làm việc găng , giá cả tiêu dùng liên tiếp tăng cao… report chưa đầy đủ , tính đến hết tháng 6 , cả nước xảy ra gần 450 cuộc ngừng việc tập thể tại 23 tỉnh , TP , tăng gấp 3 lần so với cùng kỳ năm 2010.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)